ọi người đều biết). Trong suy nghĩ của tôi, ngài đã ở Nhà Trắng rồi. Hãy tin tôi, tôi biết ngài là người xứng đáng với chức vụ đó, nếu không tôi đã chẳng nhận vận động cho ngài. Tôi đã quá giầu để không cần phải làm việc vì tiền nữa. 
Hãy cẩn thận với những người nói rằng họ quá giàu để không cần phải làm việc vì tiền nữa. Adam nghĩ. 
- Chúng tôi biêt ngài là người xứng đáng với chức vụ đó - bây giờ phải làm cho mọi người cũng biết điều đó. Xin ngài hãy nhìn vào những biểu đồ mà tôi vừa vẽ này. Tôi đã chia các phần khác nhau của đất nước theo mầu da. Chúng tôi sẽ đưa ngài đến những chỗ quan trọng để ngài có thể thi thố tài năng. 
Ông ta ngó vào tận mặt Adam và nói vẻ nghiêm chỉnh:
- Vợ ngài sẽ là một tài sản lớn đấy. Các tạp chí phụ nữ sẽ làm đủ cách để xóc vào chuyện gia đình ngài. Chúng tôi sẽ thương mại hoá ngài. A.W. ạ. 
Adam bắt đầu thấy tức. 
- Bằng cách nào vậy?
- Rất đơn giản. Ngài là một sản phẩm, A.W. ạ. Chúng tôi sẽ bán ngài như bất cứ một sản phẩm nào khác. Chúng tôi...
Adam quay sang Steward Needham. 
- Steward, tôi có thể nói chuyện riêng với anh được không?
- Tất nhiên rồi. - Needham quay lại nói với một người. - Chúng ta sẽ nghỉ ăn tối và gặp lại ở đây vào lúc chín giờ. Chúng ta sẽ tiếp tục thảo luận. 
Khi chỉ còn hai người trong phòng, Adam cất tiếng:
- Chúa ơi, Steward. Hắn định biến mọi thứ thành trò hề! "Ngài là một sản phẩm A.W. Chúng tôi sẽ bán như chúng tôi bán các sản phẩm khác". Hắn quả là đáng tởm?
- Tớ biết cậu rất khó chịu, Adam. - Steward Needham an ủi. - Nhưng Blair làm việc rất có hiệu quả. Khi hắn nói cậu sẽ là tổng thống thứ ba của hắn, hắn không đùa đâu. Tất cả các tổng thống từ Eisenhower đều dùng công ty quảng cáo giúp cho việc vận động tranh cử vẫn cần có tính mua bán trong đó. Blair Roman biết được tâm lý của công chúng. Dù có xấu xa đến đâu chăng nữa, thực tế vẫn là nếu cậu muốn được bầu vào bất cứ cơ quan nhà nước nào, cậu cần phải bán mình - tức là phải được thương mại hoá. 
- Tôi ghét điều đó. 
- Đó là một phần cái giá mà cậu phải trả. - Ông bước tới bên Adam và khoác vai anh. - Tất cả những gì mà cậu phải làm là giữ vững mục đích. Cậu muốn Nhà Trắng chứ gì? - Được rồi. Chúng tớ sẽ làm mọi việc để cậu có thể lọt vào đó. Nhưng cậu cũng phải đảm nhiệm phần việc của mình. Nếu làm diễn viên xiếc là một phần của công việc đó, cậu cũng phải chịu. 
- Chúng ta có thật sự cần Blair Roman không?
- Chúng ta cần một Blair Roman Blair rất được việc. Để tôi xứ lý hắn ta cho. Tôi sẽ giữ hắn ở xa cậu càng nhiều càng tốt. 
- Tôi rất biết ơn về chuyện đó. 
                                         ***
Chiến dịch vận động tranh cử bắt đầu. Nó bắt đầu bằng một vài phóng sự về sự kiện và nhân vật trên vô tuyến, và dần dần trở nên rộng lớn hơn cho đến khi lan tràn khắp đất nước. Đi đâu người ta cũng thấy hình ảnh của thượng nghị sĩ Adam Warner. Ở khắp mọi miền của nước Mỹ người ta thấy anh trên ti vi, trên các biển quảng cáo, nghe anh nói trên đài. Luật pháp và trật tự là một trong những vấn đề chủ yếu trong cuộc tranh cử của anh và Uỷ ban điều tra tội ác do Adam đứng đầu được nhấn mạnh rất nhiều. 
Adam xuất hiện trên tivi ngày càng nhiều. Trong chương trình phát tới bang Tây Virginia anh nói về nạn thất nghiệp và khả năng cung cấp than khổng lồ có thể làm cho vùng này trở nên giàu có. Chương trình phát cho Detroit nói về sự suy đồi ở thành thị. Ở New York chủ đề được nêu lên là tỷ lệ tội ác ngày càng tăng. 
Roman tâm sự với Adam:
- Tất cả những gì anh phải làm là nói về những vấn đề nổi bật. A.W. Anh không cần phải phân tích vấn đề một cách sâu sắc đâu. Chúng tôi đang bán một sản phẩm và đó là anh. 
Adam nói:
- Ngài Roman, tôi không thèm để ý đến những con số thống kê chết tiệt của ngài nói lên điều gì Tôi không phải là đồ ăn sáng và tôi không có ý định để bị bán như thế. Tôi sẽ nói đến các vấn đề một cách sâu sắc vì tôi nghĩ rằng người dân Mỹ đủ thông minh để muốn biết về chúng. 
- Tôi chỉ...
- Tôi muốn ông sắp xếp một buổi thảo luận về những vấn đề chủ chốt giữa tôi và Tổng thống đương nhiệm. 
Blair Roman đáp. 
- Đúng đấy. Tôi sẽ gặp bọn cố vấn của tổng thống ngay lập tức, A.W. ạ. 
- Còn một điều nữa. 
- Gì vậy?
- Đừng gọi tôi là A. W nữa. 
Chương 44
Trong hộp thư có một thông báo của hội luật gia Mỹ, về đại hội hàng năm ở Acapulco. Jennifer đang bận túi bụi với những vụ kiện cáo và thường thì cô bỏ qua những cuộc họp như thế này. Nhưng nó lại diễn ra vào đúng kỳ nghỉ hè của Joshua và Jennifer biết cậu bé sẽ rất mê Acapulco. 
Cô nói với Cynthia:
- Đồng ý. Đặt cho chị ba chỗ. 
Cô sẽ đưa bà Mackey đi cùng. Vào bữa ăn tối, Jennifer báo tin đó cho Joshua:
- Con có thích đến Acapulco không?
- Đó là một thành phố ở Mexico, - cậu bé tuyên bố, - Ở bờ biển phía tây. 
- Đúng thế. 
- Chúng ta có thể đến bãi tắm truồng được không?
- Con nói gì vậy, Joshua?
- À ở đó có những bãi tắm như vậy mà. Trần truồng thì cũng là điều tự nhiên chứ ạ. 
- Được rồi, mẹ sẽ xem xét chuyện đó. 
- Thế chúng ta có đi câu cá ở ngoài khơi được không?
Jennifer tưởng tượng ra cảnh Joshua cố sức kéo một con cá lớn và cô cố nhịn cười:
- Chúng ta sẽ xem sau. Ở đó có nhiều cá to lắm đấy. 
- Thế mới thú chứ, - Joshua nghiêm giọng giảng giải - Nếu dễ dàng thì chả có gì hay nữa, không còn là một môn thể thao nữa. 
Dường như Adam đang nói vậy. 
- Cái đó thì mẹ công nhận. 
- Chúng ta có thể làm gì ở đấy nữa?
- À chúng ta sẽ cưỡi ngựa, leo núi, ngắm cảnh. 
- Nhưng đừng có đi xem nhiều nhà thờ quá mẹ nhé. Chúng chẳng có gì khác nhau cả. 
Adam từng nói, nếu em thấy một nhà thờ coi như em đã thấy tất cả. 
Đại hội bắt đầu vào ngày thứ hai. Jennifer, Joshua và bà Mackey đến Acapulco vào thứ sáu tuần trước đó, trên một chiếc máy bay phản lực Boaniff. Joshua đã đi máybay rất nhiều lần nhưng cậu vẫn thấy thích thú. Bà Mackey thì lại hoảng sợ. 
Joshua an ủi bà:
- Hãy tưởng tượng thế này. Nếu chúng ta gặp tai nạn, thì chỉ đau một giây thôi. 
Bà Mackey tái mặt. 
Máy bay hạ cánh xuống sân bay Benito Juarez vào lúc bốn giờ chiều và một tiếng sau cả ba đã đến khách sạn Las Brisas. Khách sạn này cách Acapulco tám dặm, gồm nhiều ngôi nhà màu hồng rất đẹp trên một quả đồi. Khu nhà mà Jennifer thuê có cả bể bơi riêng. Rất khó thuê chỗ ở khách sạn này, vì vào thời gian này có rất nhiều hội nghị ở Acapulco và thành phố trở nên quá chật chội. Nhưng Jennifer đã gọi điện trước cho một khách hàng của mình, và chỉ một tiếng sau cô được thông báo là Las Brisas đang nóng lòng chờ cô. 
***
Sau khi đã sắp xếp đồ đạc xong, Joshua hỏi:
- Chúng ta có thể xuống phố nghe nói chuyện được không nhỉ?
- Con chưa bao giờ đến nước nào mà ở đó người ta không nói tiếng Anh. - Cậu nghĩ thêm một lát và nói tiếp - Nếu không kể nước Anh. 
Họ đi vào trung tâm thành phố và đi quanh Acapulco, khu vực nhộn nhịp nhất ở đó, nhưng Joshua hết sức thất vọng vì chỉ nghe thấy mọi người nói tiếng Anh. Acapulco đầy khách du lịch Mỹ. Họ đi dọc theo khu chợ ở phần thành phố cổ, ở đó hàng trăm người bán hàng rong đủ thứ hàng hoá. 
Buổi chiều họ đi xe ngựa đến Pie dela Euesta, bãi biển hoàng hôn và sau đó trở lại thành phố. Họ ăn tối tại tiệm câu lạc bộ Armando. Bữa ăn thật tuyệt. 
Con rất thích thức ăn Mexico, - Joshua tuyên bố. 
- Mẹ rất mừng, - Jennifer nói. - Có điều đây là món ăn của Pháp. Thế nhưng chúng có mùi vị của Mexico. 
Thứ bảy là một ngày bận rộn. Buổi sáng họ đi mua đồ ở Quebrada, nơi có những cửa hàng tốt nhất và sau đó ăn trưa tại Coyuca 22. Joshua bảo:
- Có lẽ mẹ sẽ nói - đây là món ăn của Pháp chứ gì?
- Không, đây là món ăn Mexicô chính hiệu bé ạ. 
Họ đến khu nhà cao tầng gần Plaza Ctela và Joshua thấy tấm biển quảng cáo jailai ở trong. 
Cậu đứng nhìn, mắt tròn xoe, khiến Jennifer hỏi:
- Con có thích xem cái trò chơi jailai không?
Joshua gật đầu:
- Nếu như không tốn tiền quá. Nếu chúng ta hết tiền, chúng ta sẽ không về nhà được. 
- Mẹ nghĩ chúng ta sẽ xoay sở được thôi. 
Họ vào trong tòa nhà xem các đội chơi quyết liệt, Jennifer cá một đội cho Joshua và đội của cậu thắng. 
Khi Jennifer nhắc đến chuyện quay về khách sạn, Joshua liền đáp:
- Ơ mẹ, chúng ta còn phải xem những người nhào lộn xuống nước đã chứ. 
- Con không mệt chứ, Joshua?
- Nếu mẹ mệt, chúng ta phải nghỉ thôi. Con quên mất là mẹ đã có tuổi rồi đấy. 
- Đừng lo cho tuổi tác của mẹ. - Jennifer quay sang bà Mackey. 
- Chị còn đủ sức không?
- Tất nhiên, - bà Mackey rên rỉ. 
Trò nhào lộn xuống nước diễn ra ở vách núi Quebrada. Jennifer, Joshua và bà Mackey đứng ở bục khán giả, trong khi những người nhào lộn lao từ độ cao 150 bộ xuống vịnh nước có đá ngầm, tính toán để khi họ rơi xuống, đợt sóng tiếp sau sẽ kéo họ ra biển. Chỉ một sai sót nhỏ cũng đưa đến cái chết tức thì. 
Khi trò diễn kết thúc, một chú bé đi thu tiền. 
- Xin quý ông, quý bà làm phúc cho một pê-sô. 
Jennifer đưa cho nó năm pê-sô. 
Tối hôm đó Jennifer mơ thấy những người nhào lộn trên sóng nước. 
Khách sạn Las Brisas cũng có bãi biển riêng và sáng sớm chủ nhật Jennifer, Joshua và bà Mackey đi xuống bãi biển bằng một chiếc xe Jeep màu hồng không mui, mà khách sạn dành cho khách. Thời tiết thật là tuyệt. Bến cảng trông như một bức tranh sơn dầu màu xanh, được tô điểm bởi những chiếc ca nô và thuyền buồm. 
Joshua đứng ở mép nước, ngắm nhìn những người lướt ván lướt ngang qua. 
- Mẹ có biết là môn lướt ván được nghĩ ra đầu tiên ở Acapulco không?
- Không. Con nghe được điều đó ở đâu vậy?
- Có lẽ con đọc được ở một cuốn sách nào đó hoặc là con tự nghĩ ra. 
- Mẹ chắc là con tự nghĩ ra đấy. 
- Điều đó có nghĩa là con không được lướt ván phải không ạ?
- Những chiếc ca nô này chạy nhanh. Con không sợ à?
Joshua ngẩng lên nhìn những người lướt ván đang nhào lộn trên mặt nước. Người đàn ông đó nói: "Tao sẽ đưa mày đến chỗ chúa Giê-su. Rồi sau đó đóng đinh lên tay con". 
Đó là lần đầu tiên cậu nhắc tới quá khứ kinh khủng mà cậu đã trải qua. 
Jennifer quỳ xuống ôm lấy con trai. 
- Điều gì làm con nhắc đến chuyện ấy, hả Joshua?
Cậu nhún vai. 
- Con chẳng biết. Con đoán chắc là vì Chúa Giê-su đi trên mặt nước và tất cả mọi người ngoài kia cũng đang đi trên mặt nước. 
C